Bỏ qua, tới nội dung chính
Cận cảnh cụm van trên thân máy
  1. Trang chủ
  2. Thuỷ lực & khí nén
Thuỷ lực & khí nén

Bảo trì trạm nguồn thuỷ lực: lịch và các phép đo

Công việc theo ngày, tháng và năm, tiêu chí thay dầu theo phân tích thay vì cảm quan, và cách xả khí sau khi sửa.

Hoàng Văn Đức Kỹ sư điện tự động hoá 4 phút đọc

Nội dung bài

Cập nhật 4 phút đọc

Trạm nguồn thuỷ lực là thiết bị ít được chú ý cho tới lúc hỏng, vì nó chạy đều và không kêu. Một lịch bảo trì đơn giản ngăn được phần lớn hỏng hóc, và các phép đo đều làm được bằng dụng cụ có sẵn.

Hằng ngày

  • Mức dầu trong thùng, đọc ở cùng trạng thái xy-lanh — mức thay đổi theo vị trí cần piston.
  • Nhiệt độ dầu, so với giá trị bình thường đã ghi nhận.
  • Quan sát rò rỉ quanh bơm, van và đầu nối.
  • Nghe tiếng bất thường khi khởi động.

Bốn việc này mất vài phút và bắt được phần lớn vấn đề ở giai đoạn còn rẻ.

Hằng tháng

Việc Ghi nhận
Chênh áp qua lọc Chỉ báo tắc, hoặc đo bằng đồng hồ
Áp suất đặt của van an toàn So với giá trị thiết kế
Nhiệt độ dầu ở tải đầy Vẽ xu hướng qua các tháng
Tình trạng ống mềm Nứt, phồng, cọ xát, rỉ ở đầu nối
Siết lại đầu nối Chỗ nào phải siết lại thường xuyên là chỗ có vấn đề

Xu hướng nhiệt độ là chỉ số tổng quát tốt nhất. Nhiệt độ tăng dần qua các tháng ở cùng chế độ tải nghĩa là rò rỉ trong đang tăng, và nó cho cảnh báo trước nhiều tháng.

Van công nghiệp sơn đỏ trên đường ống
Hằng tháng

Hằng năm

  • Lấy mẫu dầu gửi phân tích.
  • Vệ sinh thùng dầu, kiểm tra bộ lọc khí trên nắp thùng.
  • Kiểm tra bình tích áp và áp suất nạp khí trước.
  • Kiểm đồng tâm giữa động cơ và bơm.
  • Kiểm và hiệu chuẩn đồng hồ áp suất.

Bộ lọc khí trên nắp thùng hay bị bỏ. Thùng dầu thở ra thở vào theo mức dầu, và không khí xưởng đi qua đó mang theo bụi và ẩm vào thẳng thùng.

Thay dầu theo phân tích, không theo lịch

Phân tích dầu cho ba nhóm thông tin, và mỗi nhóm dẫn tới một hành động khác nhau:

Mạng đường ống và van kim loại trong nhà máy
Hằng năm
  • Độ nhớt lệch khỏi cấp ban đầu — dầu đã biến chất hoặc bị pha nhầm loại.
  • Độ sạch theo mã ISO — quyết định phải xử lý lọc, không phải thay dầu.
  • Hạt mài mòn kim loại — chẩn đoán tình trạng máy; thành phần hạt chỉ ra chi tiết nào đang mòn.

Nhóm thứ ba là giá trị lớn nhất và thường bị bỏ qua: phân tích dầu không chỉ nói dầu còn dùng được không, mà còn nói máy đang mòn ở đâu.

Thay dầu theo cảm quan — thấy đen thì thay — vừa lãng phí khi dầu còn tốt vừa muộn khi dầu đã hỏng mà chưa đổi màu.

Xả khí sau khi sửa

Sau mọi lần mở mạch, không khí lọt vào và phải xả hết trước khi chạy tải. Khí lẫn gây tiếng gõ, chuyển động giật, và về lâu dài làm dầu oxy hoá nhanh.

Cách làm: chạy không tải, cho các xy-lanh đi hết hành trình vài lần, nới nhẹ đầu nối ở điểm cao nhất của mạch cho khí thoát, rồi siết lại. Kiểm mức dầu sau khi xả khí vì mức sẽ tụt xuống.

Câu hỏi thường gặp

Phép đo nào cho cảnh báo sớm nhất ở trạm thuỷ lực?

Xu hướng nhiệt độ dầu ở cùng chế độ tải. Nhiệt độ tăng dần qua các tháng nghĩa là rò rỉ trong đang tăng, và dấu hiệu này xuất hiện trước khi máy có triệu chứng yếu hay chậm nhiều tháng. Chỉ cần một nhiệt kế trên thùng và ghi số mỗi tuần ở cùng thời điểm trong chu kỳ sản xuất.

Nên thay dầu thuỷ lực theo lịch hay theo phân tích?

Theo phân tích. Thay theo cảm quan vừa lãng phí khi dầu còn tốt vừa muộn khi dầu đã hỏng mà chưa đổi màu. Phân tích cho ba nhóm thông tin: độ nhớt còn đúng cấp không, độ sạch tới mức nào, và có hạt mài mòn kim loại bất thường không — nhóm cuối còn chẩn đoán được chi tiết nào trong máy đang mòn.

Sau khi sửa xong có cần xả khí không?

Có, và phải xả hết trước khi chạy tải. Không khí lọt vào khi mở mạch gây tiếng gõ, chuyển động giật, và làm dầu oxy hoá nhanh về lâu dài. Cách làm là chạy không tải cho xy-lanh đi hết hành trình vài lần, nới nhẹ đầu nối ở điểm cao nhất cho khí thoát rồi siết lại, sau đó kiểm lại mức dầu vì mức sẽ tụt.