Một chi tiết thay thế được báo giá gấp bốn lần dự kiến. Lý do nằm ở một dòng nhỏ trên bản vẽ: người vẽ ghi dung sai chặt hơn mức cần, và xưởng phải mài thay vì tiện. Bản vẽ là nơi giá thành được quyết định, không phải bảng báo giá.
Dung sai kích thước
Mỗi kích thước đều có dung sai, kể cả khi không ghi — bản vẽ luôn có một dung sai chung áp cho mọi kích thước không ghi riêng, thường nằm trong khung tên. Kiểm tra dòng đó trước khi kết luận chi tiết dễ làm.
Dung sai ghi riêng có hai kiểu: ghi thẳng sai lệch trên dưới, hoặc ghi theo cấp dung sai tiêu chuẩn. Cấp càng nhỏ thì miền dung sai càng hẹp và giá càng cao, không tuyến tính mà theo bậc: mỗi lần siết chặt thêm một cấp thường đổi luôn phương pháp gia công.
Chỉ siết chặt ở chỗ lắp ghép
Quy tắc thực dụng: chỉ những kích thước tham gia lắp ghép mới cần dung sai chặt. Đường kính lắp vòng bi, lỗ lắp chốt định vị, bề mặt tì — những chỗ đó quyết định chi tiết có lắp được không. Chiều dài tổng thể, chiều dày gân, khoảng cách tới mép ngoài thì dung sai chung là đủ.

Một bản vẽ ghi chặt toàn bộ không làm chi tiết tốt hơn; nó chỉ làm mọi kích thước đều phải kiểm và mọi kích thước đều có thể là lý do phế phẩm.
Độ nhám bề mặt
Độ nhám ghi bằng ký hiệu tam giác kèm giá trị Ra tính bằng micromet. Con số càng nhỏ thì bề mặt càng mịn và càng nhiều nguyên công.
| Ra tham khảo | Đạt được bằng | Dùng cho |
|---|---|---|
| Thô | Tiện, phay thô | Bề mặt không tiếp xúc, mặt đúc gia công sơ |
| Trung bình | Tiện, phay tinh | Mặt tì, mặt bích, phần lớn chi tiết máy |
| Mịn | Mài | Cổ trục lắp vòng bi, mặt trượt |
| Rất mịn | Mài tinh, đánh bóng | Bề mặt làm kín động, chi tiết thuỷ lực |
Ghi độ nhám mịn cho một mặt không tiếp xúc là cách nhanh nhất để thêm một nguyên công mài vào quy trình mà không được lợi gì.
Dung sai hình học
Nhóm ký hiệu này nói về hình dạng và vị trí, thứ mà dung sai kích thước không diễn tả được. Một trục có đường kính đúng ở mọi tiết diện vẫn có thể cong; một lỗ đúng đường kính vẫn có thể lệch tâm.

- Độ thẳng, độ phẳng, độ tròn, độ trụ — hình dạng của chính bề mặt đó.
- Độ song song, độ vuông góc, độ nghiêng — quan hệ với một chuẩn.
- Độ đồng tâm, độ đối xứng, dung sai vị trí — vị trí so với chuẩn.
- Độ đảo — tổng hợp của sai lệch hình dạng và vị trí khi quay.
Mọi ký hiệu nhóm hai và ba đều cần một chuẩn. Ghi độ vuông góc mà không chỉ rõ vuông góc với mặt nào là một yêu cầu không kiểm được, và xưởng sẽ tự chọn chuẩn theo cách tiện nhất cho họ.
Đọc bản vẽ trước khi hỏi giá
Bốn câu hỏi trả lời được ngay trên bản vẽ, và trả lời xong thì cuộc trao đổi với xưởng ngắn hơn hẳn:
- Dung sai chung trong khung tên là bao nhiêu?
- Có bao nhiêu kích thước ghi dung sai riêng, và chúng có thật sự là chỗ lắp ghép không?
- Bề mặt nào yêu cầu độ nhám mịn, và có cần thật không?
- Các dung sai hình học đã chỉ rõ chuẩn chưa?
Nếu chi tiết là bản sao của cái đang mòn trên máy, hãy nói rõ điều đó với xưởng và cung cấp cả chi tiết đối tiếp. Kích thước quan trọng nhất thường không nằm trên chi tiết cần làm mà nằm ở cái nó phải lắp vào.
Câu hỏi thường gặp
Dung sai không ghi thì hiểu thế nào?
Bản vẽ luôn có một dung sai chung áp cho mọi kích thước không ghi riêng, thường đặt trong hoặc cạnh khung tên. Đọc dòng đó trước khi kết luận chi tiết dễ hay khó làm. Nếu bản vẽ không có dòng dung sai chung thì đó là một thiếu sót cần bổ sung trước khi gửi đi báo giá, vì mỗi xưởng sẽ tự hiểu một kiểu.
Vì sao siết dung sai lại làm giá tăng vọt chứ không tăng dần?
Vì mỗi lần siết chặt thêm một bậc thường đổi luôn phương pháp gia công. Tiện tinh đạt được một khoảng dung sai nhất định; muốn chặt hơn phải chuyển sang mài, tức thêm một nguyên công, thêm một lần gá và thêm thiết bị. Giá vì thế nhảy bậc chứ không đi lên đều theo độ chặt.
Dung sai hình học có bắt buộc ghi chuẩn không?
Mọi dung sai về quan hệ và vị trí — song song, vuông góc, đồng tâm, đối xứng, vị trí, độ đảo — đều phải chỉ rõ chuẩn. Không có chuẩn thì yêu cầu đó không kiểm được và xưởng sẽ tự chọn mặt tiện nhất cho họ làm chuẩn, thường không phải mặt mà thiết kế dựa vào khi lắp.